Chi hội · Jun 8, 2026 · Đọc 4 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp
Xác thực bởi
Chi hội · Jun 8, 2026 · Đọc 4 phút
Lưu
Chia sẻ
Đọc tiếp

iGuide Stories
Bài viết này cung cấp thông tin chi tiết về các căn cứ pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bài viết giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về các tình huống có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các yếu tố cần thiết để xác định trách nhiệm bồi thường và cách bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy ra thiệt hại. Việc hiểu rõ các quy định này sẽ giúp cá nhân, tổ chức chuẩn bị tốt hơn để xử lý các tình huống pháp lý liên quan đến bồi thường thiệt hại.
Điều 584 Bộ luật Dân sự quy định: Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền hoặc lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Trường hợp tài sản bị thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Hướng dẫn áp dụng quy định tại điều nêu trên của Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã làm rõ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
a) Thực hiện hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác;
b) Thiệt hại xảy ra bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần;
Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế mà chủ thể bị xâm phạm có thể xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản không thể khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và các lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm.
Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác bị xâm phạm mà chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải gánh chịu và phải được bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất đó.
c) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi xâm phạm. Thiệt hại phải là hậu quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại, hành vi xâm phạm phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Trong trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chủ sở hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, trừ trường hợp chủ sở hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định. Chủ sở hữu tài sản được xác định tại thời điểm tài sản gây thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tài sản đang được mua bán thì phải xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu để xác định chủ sở hữu tài sản gây thiệt hại. Người chiếm hữu không phải là chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu người đó đang nắm giữ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát tài sản với tư cách là chủ thể có quyền đối với tài sản tại thời điểm gây thiệt hại.
Người gây thiệt hại, chủ sở hữu tài sản, người chiếm hữu tài sản không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả thi. Lỗi của người bị thiệt hại hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại không có lỗi.
Đăng nhập để bình luận. Đăng nhập
Hãy là người đầu tiên bình luận.
React với bài viết
Bình chọn
Đăng nhập để bình chọn